Chúng tôi trên mạng xã hội
    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

moi quang cao

Thống kê
  • Đang truy cập211
  • Máy chủ tìm kiếm40
  • Khách viếng thăm171
  • Hôm nay57,932
  • Tháng hiện tại2,146,895
  • Tổng lượt truy cập36,912,123

Khám thính lực - bệnh viện 103

Ngày nay cùng với sự tiến bộ của khoa học công nghệ như vật lý học, âm thanh học, quang học đặc biệt là tin học đã giúp cho người thầy thuốc hiểu biết một cách thấu đáo về đường dẫn truyền thính giác, giúp cho công tác chẩn đoán và điều trị bệnh một cách hữu hiệu. Người bệnh đến khám muốn hiểu biết rõ về bệnh của mình, mức độ nghe kém và nguyên nhân gây nghe kém. Điều trước hết là thầy thuốc phải hiểu biết về thính lực, phương pháp đo thính lực.

Có hai phương pháp đo sức nghe là đo thính lực chủ quan và đo thính lực khách quan.

1. Đại cương về thính giác.

Thính giác của người bình thường không hoàn toàn giống nhau. Chỉ số bình quân đo sức nghe ở những thanh niên không bị bệnh tai mũi họng là chuẩn mực cho ngươì bình thường. Vùng nghe được của tai người ở dải 16 – 20.000 Hz (Hertz) và mỗi tần số có ngưỡng nghe tối thiểu và tối đa. Trên biểu đồ (Hình 1) ta có vùng nghe (thính trường) của ngươì bình thường. So sánh với thính giác của một số loài vật thì thính giác người còn thua kém. Ví dụ dơi, chuột, mèo nghe được tần số 60.000 Hz, có loài dơi nghe được 100.000 Hz.

Tiếng nói con người nằm trong vùng nhạy cảm nhất của trường nghe, khoảng tần số 250 – 4.000 Hz, thông thường ở vùng tần số 1000 – 2000 Hz. Về cường độ, tiếng nói thông thường nằm trong khoảng 30 – 70 dB, (nói nhỏ: 30 – 35 dB, nói vừa 55 dB, nói to 70 dB).

Vì vậy những sự giảm sút thính giác trong vùng tiếng nói được nhiều người chú ý và biết đến, người ta ít quan tâm hơn đến sự giảm sút thính giác ở các vùng khác. Các máy đo sức nghe thông thường chỉ đo các tần số 125 – 8000 Hz.

Về cường độ, sự giảm sút sức nghe 30 dB mới được chú ý. Vì vậy nhiều người bị giảm sút 25 dB không hề cảm thấy khó khăn gì trong đời sống, một lúc nào đó bị “cảm, cúm” sức nghe giảm thêm 5 dB, bỗng nhiên mới biết mình nghe kém. Nếu có người hoàn toàn không nghe được tần số 8000Hz trở lên thì điều đó không ảnh hưởng gì lớn trong cuộc sống.

Bộ máy thính giác bao gồm:

  • Tai ngoài: vành tai làm nhiệm vụ thu nhận và hướng dẫn âm thanh.
  • Tai giữa: hòm nhĩ các xương con và các phần phụ thuộc làm nhiệm vụ truyền dẫn âm thanh và biến đổi năng lượng âm để bù trừ vào chỗ hao hụt ở phần sau.
  • Tai trong: cơ quan corti với các tế bào giác quan và dây thần kinh thính giác làm nhiệm vụ tiếp nhận âm thanh và truyền lên não qua 5 chặng neuron. Mỗi kích thích âm thanh nghe được từ 1 tai được truyền lên cả 2 bán cầu đại não.

Ở tai trong, âm thanh được truyền từ môi trường không khí, qua môi trường nước (nội, ngoại dịch) đã mất đi 99,9% năng lượng, chỉ có 1% năng lương được truyền đi, tính ra cường độ giảm mất 30 dB. Nhưng do hệ màng nhĩ – chuỗi xương con ở tai giữa đã tác động như một máy biến thế nên đã bù trừ vào chỗ mất mát đó. Kết quả người ta vẫn nghe được đúng với cường độ thực ở bên ngoài.

Tai giữa làm nhiệm vụ dẫn truyền âm thanh, bệnh tật ở bộ phận này gây ra điếc dẫn truyền, sự giảm sút thính giác không bao giờ quá 60 dB. Nhiều loại điếc này có thể chữa khỏi, kể cả bằng phương pháp phẫu thuật.

Tai trong là bộ phận giác quan – thần kinh, thương tổn bệnh tật ở bộ phận này có thể gây ra điếc nặng, thậm chí có thể điếc đặc, điếc hoàn toàn. Điếc tai trong là điếc tiếp nhận.

Trong thực tế nhiều trường hợp có cả thương tổn ở tai giữa và tai trong, sẽ gây ra điếc hỗn hợp nghĩa là vừa có tính chất dẫn truyền vừa có tính chất tiếp nhận. Tuỳ theo mức độ thiên về phía nào mà là điếc hỗn hợp thiên về dẫn truyền hoặc thiên về tiếp nhận.

2. Đo sức nghe chủ quan (Subjectiv audiometrie).

Bao gồm đo sức nghe bằng tiếng nói, đo sức nghe bằng âm thoa và đo bằng máy đo sức nghe.

2.1. Dùng tiếng nói.

Là cách đơn giản dùng ngay tiếng nói của thầy thuốc, với 1 số câu từ đơn giản, thông thường, thực hiện trong 1 buồng hay hành lang có chiều dài ít nhất là 5 m, tương đối yên tĩnh. Trước tiên đo bằng tiếng nói thầm, nếu có giảm nghe rõ mới đo tiếp bằng tiếng nói thường.

Nguyên tắc: Bệnh nhân không được nhìn miệng thầy thuốc, đứng vuông góc với thầy thuốc và hướng tai khám về phía thầy thuốc, tai không khám phải được bịt lại.

Lúc đầu đứng xa 5 m tiến dần về phía thầy thuốc đến lúc nghe được và lặp lại đúng câu nói của thầy thuốc, ghi khoảng cách.

Bình thường:

  • Nói thầm: nghe được xa 0,5 m
  • Nói thường: nghe được xa 5 m

Đo bằng tiếng nói thầm: Nói thầm (là nói bằng giọng hơi, không thành tiếng) thường  khám khoảng 5 m, nói từng câu, thông thường 3 đến 5 từ, có thể nói 1 địa danh quen thuộc như: thành phố HCM, Hà Nội… và yêu cầu bệnh nhân nhắc lại. Nếu bệnh nhân không nghe thấy, thầy thuốc tiếp tục tiến  dần sát với bệnh nhân (khoảng 0.5m), và ghi lại khoảng cách đầu tiên mà bệnh nhân  nhắc lại được.

Bình thường nghe được xa 0,5 m, khoảng cách giữa thầy thuốc – khoảng cách càng ngắn là sức nghe càng giảm.

Đo bằng tiếng nói thường: Chỉ thực hiện khi khoảng cách nghe được với tiếng nói thầm dưới 1m vì tai bình thường nghe được tiếng nói thường ở khoảng cách trên 5 m.

Cách đo, khám tương tự như trên, thay tiếng nói thầm bằng tiếng nói thường như trong giao tiếp sinh hoạt.

Nhận định:

Kết quả đo đơn giản bằng tiếng nói trên cũng cho phép phát hiện ban đầu tình trạng và mức độ nghe kém.

2.2. Đo bằng âm mẫu.

Thường dùng 1 âm mẫu 128 hay 256Hz

Cách đo:

  • Đo đường khí: để 2 ngành âm mẫu dọc trước lỗ tai ngoài, cách độ 2cm.
  • Đo đường xương: ấn nhẹ cán âm mẫu lên mặt xương chũm. Tính thời gian từ khi gõ âm mẫu đến khi không nghe được, theo đơn vị giây.

Các nghiệm pháp:

  • Dùng âm thoa 128 (dao động 128 chu kỳ/giây) gõ vào lòng bàn tay và làm 3 nghiệm pháp dưới đây:
  • Nghiệm pháp Weber: Gõ rồi để cán âm mẫu lên đỉnh đầu hay giữa trán, hỏi bệnh nhân tai nào nghe rõ hơn, nếu tai nào nghe rõ hơn tức là Weber lệch về tai bên đó (bình thường hai tai nghe như nhau).
  • Nghiệm pháp Schwabach: Tính thời gian nghe bằng đường xương.
  • Nghiệm pháp Rinner: So sánh thời gian nghe bằng đường khí và thời gian nghe bằng đường xương, bình thường thời gian nghe bằng đường khí kéo dài hơn thời gian nghe bằng đường xương NP Rinner (+). Nếu thời gian nghe bằng đường khí ngắn hơn thời gian nghe bằng đường xương NP Rinner (-)

Kết luận: Tai phải nghe bình thường.

Tai trái nghe kém thể dẫn truyền.

Trường hợp điếc hỗn hợp: dùng thêm các âm thoa 128, 256, 512, 1024, 2048, 4096 sẽ thấy đối với âm thoa này (ví dụ âm trầm) thì có tính dẫn truyền, đối với các loại khác (ví dụ âm cao) thì lại có tính tiếp nhận.

2.3. Đo bằng dụng cụ đơn giản.

Với những người nghe kém nặng, điếc hay với trẻ nhỏ, thường dùng các dụng cụ phát âm đã được chuẩn hoá tương đối như trống, còi, chuông, mõ…hoặc các máy đơn giản phát được vài âm tần hay tiếng đơn giản như tiếng súc vật, tiếng tàu, ô tô…ở 1 vài cường độ lớn nhất định để xem có nghe được hay có phản xạ, phản ứng như chớp mắt, cau mày, co chi, quay đầu…với các tiếng đó không? Qua đó sơ bộ xác định khả năng nghe.

2.4. Dùng máy đo sức nghe – thính lực kế (audiometer).

Đo thính lực tức là tìm được ngưỡng nghe của bệnh nhân (mức cường độ tối thiểu để có thể nghe được âm đơn ở từng tần số).

Âm được phát theo đường khí (qua loa tai) hoặc qua đường xương (qua núm rung) tới từng tai. Phải tiến hành đo trong buồng cách âm. Nối các điểm  ngưỡng nghe ở các tần số tạo thành một biểu đồ gọi là thính lực đồ.

Thính lực đồ

  • Đo lần lượt từng tai, kết quả ghi trên biểu đồ sức nghe bằng ký hiệu:
  • Trục đứng là trục cường độ đơn vị là dB. Trục ngang là trục tần số đơn vị là  Hz
  • Máy thông thường phát ra các âm có tần số 125, 250, 500, 1000, 2000, 4000, 8000 Hz và có thể các tần số trung gian 3000, 6000 Hz, ở các mức cường độ 0 – 100 dB
  • Máy đo sự giảm sút sức nghe so với người bình thường, 0dB là cường độ tối thiểu để người bình thường bắt đầu nghe được. Máy đo từng mức 5 dB Trên máy có ghi cường độ – 20 dB, – 10 dB đo cho những người nghe tốt hơn mức bình thường. Giảm sức nghe càng nhiều, số đo càng lớn. Đo đường xương bằng khối rung, kết quả phản ánh dự trữ ốc tai, tiềm năng sức nghe.

Một vài ví dụ:

  • Sức nghe bình thường: Trên hình bên là biểu đồ sức nghe tai phải. 0…0 là đường khí, […[ là đường xương. Vì nhiều lý do, sai lệch đường khí 5 – 10 dB, sai lệch đường xương khoảng 20 dB vẫn coi là bình thường.
  • Điếc dẫn truyền đơn thuần: Hình bên là biểu đồ sức nghe tai trái, ]…] nghe đường xương ở mức bình thường, x…x nghe đường khí sút kém nhưng không đến mức 60 dB, khoảng cách giữa đường xương và đường khí biểu hiện Rinne (-) trên biểu đồ.
  • Điếc tiếp nhận đơn thuần: Biểu đồ sức nghe tai trái, đường xương ]…] và đường khí x…x gần trùng nhau.
  • Điếc hỗn hợp: Biểu đồ sức nghe tai phải: Ở các tần số dưới 2000Hz đường khí và đường xương cách xa nhau, có khoảng Rinne (-). Từ 2000Hz trở đi, hai đường khí và đường xương chập nhau.

3. Đo sức nghe khách quan (Objectiv audiometrie).

Theo kết quả thu được trực tiếp của cơ quan nghe ở tai giữa, tai trong (loa đạo) hay thần kinh trung ương (não)

3.1. Đo trở kháng.

Có hai ứng dụng trên lâm sàng.

  • Nhĩ đồ (Tympanometrie): bình thường biểu hiện như một hình nón không cân xứng, đáy loe, đỉnh trùng với áp suất bằng 0. Khi có dịch tiết hay nhầy trong hòm nhĩ, vòi nhĩ bị tắc một phần hay tắc hoàn toàn v,v.v.. Nhĩ đồ có hình ảnh bệnh lí đặc biệt.
  • Phản xạ cơ bàn đạp( Impedanzmetrrie): trường hợp bình thường và điếc dẫn truyền đơn thuần, ngưỡng phản xạ cách ngưỡng nghe khoảng 85 dB. Khi có hồi thính, ngưỡng này thu hẹp lại. Đo phản xạ có thể phát hiện nhiều trường hợp điếc giả vờ.

3.2. Đo điện ốc tai và điện não thính giác.

  • Nguyên lý: Khi nghe một âm thanh cũng giống như thu nhận một kích thích, một cảm giác khác, điện não có biến đổi nhưng sự biến đổi đó quá nhỏ bị lẫn vào trong biểu đồ ghi điện não tổng hợp nhiều quá trình hoạt động của não. Nếu ta phát những âm thanh (clic hoặc burst) liên tục và ghi dòng điện não (bằng cách đặc biệt phân tích dòng này thành nhiều điểm, dùng máy tính điện tử ghi tổng số ở từng điểm sau mỗi lần phát âm ra) sẽ cho thấy đáp ứng của não đối với âm thanh  nếu tai nghe được, tùy theo vị trí đặt cực ta có.
  • Đo điện ốc tai (Electrocholeographie): Điện cực đặt ở đáy hòm nhĩ hoặc ống tai.
  • Điện não thính giác: ERA (Electro respontal audiometrie) và BERA     (Brain electro respontal audiometrie) điện cực đặt ở vùng trán, đỉnh đầu và xương chũm.

Phân chia các loại  điếc:

Ngày nay nghành thính học đã phát triển mạnh mẽ, việc đo sức nghe, chẩn đoán điếc đã có nhiều tiến bộ với các máy móc hiện đại có thể giúp được thầy thuốc chẩn đoán chính xác vùng bị tổn thương và mức độ tổn thương.

  • Điếc dẫn truyền
  • Điếc tiếp nhận hay hỗn hợp.

Phân hạng các loại điếc:

  • Điếc nhẹ  20 – 40 dB
  • Điếc vừa  40 – 60 dB
  • Điếc nặng  60 – 80 dB
  • Điếc đặc > 80 dB

Nguồn: Bệnh viện 103

Thành viên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây