Chúng tôi trên mạng xã hội
    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

moi quang cao

Thống kê
  • Đang truy cập320
  • Máy chủ tìm kiếm83
  • Khách viếng thăm237
  • Hôm nay58,101
  • Tháng hiện tại991,996
  • Tổng lượt truy cập42,845,279

Cấp cứu Hạ Kali máu - Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

Hạ kali máu

  • Hạ kali máu là một rối loạn điện giải thường gặp trong khoa hồi sức tích cực có thể gây tử vong nếu không được xử trí kịp thời. Nồng độ kali máu bình thường: 3,5 – 5mmol/l.Hạ khi kali máu < 3,5mmol/l.
  • Giảm nồng độ kali máu có thể là hậu quả của (1) dịch chuyển ion K+ vào trong tế bào; (2) mất bất thường qua thận; (3) mất kali ngoài thận.
  • Tính toán gradient K+ qua ống thận (transtubular K+ gradient – TTKG) có thể giúp phân biệt giữa mất kali nguồn gốc ngoài thận, mặc dù các chứng cứ thu được khi khai thác tiền sử và bệnh sử thường đã đủ để phát hiện được nguồn gốc kali.Thông số này phản ánh tình trạng mất kali trong nước tiểu. Nếu < 3 thì là mất K+ngoàithận. Nhưng nếu >3 thì mất K+qua thận.

Chẩn đoán

Chẩn đoán xác định

Dấu hiệu hạ kali máu:Thường xảy ra khi kali máu <2,5mmol/L.

  •  Yếu thần kinh cơ, yếu cơ ( tứ chi, cơ hô hấp…), đau cơ, co rút cơ.
  •  Bụng trướng, giảm nhu động ruột, táo bón, nôn, buồn nôn.
  •  Nặng có thể có tiêu sợi cơ vân, hoặc liệt lan lên khi nồng độ K+< 2mmol/L
  •  Loạn nhịp tim: Dấu hiệu hạ kali máu trên điện tim; có sóng U, sóng T dẹt, ST chênh xuống, nếu diễn tiến kéo dài biểu hiệu nặng trên điện tim như giảm điện thế, PQ kéo dài, QRS dãn rộng, nhịp nhanh thất, xoắn đỉnh.

Xét nghiệm kali máu < 3,5mmol/l.

Chẩn đoán mức độ

  • Mức độ nhẹ: 2,5mmol/l < kali < 3,5mmol/l. Không có triệu chứng.
  • Mức độ vừa: kali < 2,5mmol/l (<3mmol/l nếu đang dùng digoxin). Không có yếu cơ và không có dấu hiệu nặng trên điện tim.
  • Mức độ nặng: kali < 2 mmol/l (< 2,5mmol/l nếu đang dùng digoxin). Có yếu cơ hoặc có dấu hiệu nặng trên điện tim.

Chẩn đoán nguyên nhân

Giảm tổng lượng ion K+ trong cơ thể:

  • Mất qua thận: Khi K+ nước tiểu >20mmol/L hoặc TTKG >3
  • Các ảnh hưởng của Aldosteron: Cường Aldosteron nguyên phát, tăng huyết áp do bệnh mạch thận hoặc tăng huyết áp ác tính.
  • Các tác dụng giống Aldosteron: Hội chứng Cushing, tăng quá mức corticoid, hội chứng Liddle, tăng sản thượng thận bẩm sinh.
  • Tăng Aldosteron thứ phát (giảm thể tích máu): Sử dụng quá mức lợi tiểu, hội chứng Barter, hội chứng Gitelman.

Mất ngoài thận: Khi K+ nước tiểu <20mmol/L hoặc TTKG <3

  • Thường mất K+ qua đường tiêu hóa:Gặp ở bệnh nhân nôn hoặc mất do dẫn lưu qua ống thông dạ dày, tiêu chảy, dẫn lưu mật, mở thông hồi tràng, sau phẫu thuật ruột non. Thụt tháo hoặc dùng thuốc nhuận tràng.
  • Dịch chuyển K+vào tế bào: Gặp ở nhiễm kiềm máu, dùng insulin quá mức, sử dụng các thuốc cường beta2 – adrenergic (Theophylin), ngộ độc barium, liệt chu kỳ westphalgiảm nồng độ kali máu, nhiễm độc giáp, hạ thân nhiệt.

Điều trị

  • Khi bệnh nhân có biểu hiện triệu chứng và trên điện tâm đồ thì cần phải điều chỉnh nhanh tình trạng giảm nồng độ kali máu. Nếu bệnh nhân còn dùng được đường uống là an toàn nhất, nếu không phải điều chỉnh theo đường tĩnh mạch.
  • Kali clorua thường là chế phẩm được chọn dùng dù là đường tiêu hoá hay đường tĩnh mạch, vì KCl khởi động quá trình điều chỉnh giảm nồng độ kali máu và nhiễm kiềm chuyển hoá đi kèm nhanh so với khi dùng các chế phẩm kali khác.
  • Bicarbonat và kali citrat hay dùng trong hạ kali có kèm theo nhiễm toan chuyển hoá. Với các bệnh nhân hạ kali máu cần phải tìm kiếm tình trạng giảm magie máu đi kèm và cần được điều chỉnh trước hoặc cùng lúc với bồi phụ kali vì khi không được bồi phụ thiếu hụt magiê máu, giảm hấp thu K+ của bệnh nhân tại quai Henle và ống góp sẽ gây mất ngay K+ vừa được dung cho bệnh nhân.
  • Tìm và điều trị nguyên nhân. Bù đủ kali đường uống với những người có nguy cơ hạ kali máu. Thực phẩm và hoa quả có nồng độ kali cao như: khoai tây, chuối, cam và đào.
  • Nếu nồng độ kali (2,5mmol/l <K< 3,5mmol/L) và không có triệu chứng thì cho uống hoặc truyền tĩnh mạch KCl 20-40mmol mỗi 4-6 giờ với trường hợp có kiềm chuyển hoá đi kèm hoặc pH bình thường và uống kali citrat, kali bicarbonat khi có toan chuyển hoá đi kèm (ỉa chảy, toan do ống thận).
  • Nếu nồng độ kali (K ≤ 2,5mmol/l):Có triệu chứng liệt cơ hoặc dấu hiệu nặng trên điện tim thì bồi phụ KCl với tốc độ tới 40 mmol/giờ truyền qua tĩnh mạch trung tâm. Theo dõi biến đổi trên điện tim liên tục và định kỳ kiểm tra xét nghiệm K+ huyết thanh tuỳ theo mức độ hạ kali máu (nhẹ 24 giờ; vừa 6giờ; nặng 3giờ).

Chú ý:

  • Tránh truyền đường glucose ở bệnh nhân hạ kali máu sẽ gây tăng bài tiết insulin làm giảm kali máu.
  • Nồng độ kali clorid pha không quá 40mmol/l (3g) nếu dùng đường truyền ngoại biên (phải bù qua đường catheter tĩnh mạch trung tâm).Tốc độ bù kali clorid không quá 40mmol/giờ (3g).
  • pH tăng 0,1 thì kali giảm 0,4mmol/l. 1g kali clorid có 13,6 mmol.

Nguồn: Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

Thành viên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây