Chúng tôi trên mạng xã hội
    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

moi quang cao

Thống kê
  • Đang truy cập180
  • Máy chủ tìm kiếm37
  • Khách viếng thăm143
  • Hôm nay49,606
  • Tháng hiện tại1,800,664
  • Tổng lượt truy cập43,653,947

Quy trình thực hiện Thủ thuật Chụp và can thiệp Động mạch vành - Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

Để chụp và can thiệp ĐMV, bệnh nhân cần phải chuẩn bị những gì?

  • Làm các xét nghiệm như: Công thức máu, chức năng đông máu toàn bộ, Bilan mỡ máu, ion đồ, glucose máu, chức năng thận (uree, creatinin), Men gan (SGOT, SGPT), huyết thanh chẩn đoán viêm gan siêu vi B & C, HIV, ECG, siêu âm tim, X-Quang phổi.
  • Ký tên vào biên bản cam kết làm thủ thuật.
  •  Vệ sinh vùng bẹn.
  • Nhịn ăn 6 giờ trước khi làm thủ thuật 
  • Sáng ngày làm thủ thuật, bệnh nhân được truyền dịch và đưa đến phòng làm thủ thuật.

Cách thực hiện thủ thuật

  • Gây tê vùng bẹn hoặc cánh tay, cảm giác khi gây tê tại chổ cũng giống như khi tiêm thuốc. Bệnh nhân sẽ tỉnh táo hoàn toàn trong suốt quá trình làm thủ thuật, và có thể thực hiện một số động tác theo yêu cầu bác sĩ như: hít sâu, nín thở, ho,….
  • Sử dụng một kim chọc đặc  biệt đâm vào ĐM đùi hoặc ĐM quay. Đặt một ống dẫn (introducer sheath) vào ĐM đùi hoặc ĐM quay.
  • Qua introducer sheath, luồn ống thông từ ĐM đùi hoặc ĐM quay đến ĐM chủ và ĐM vành của tim dưới sự hướng dẫn của X-Quang.
  • Bơm thuốc cản quang vào ĐMV phải và trái để chụp ĐMV, sẽ phát hiện chổ hẹp hay tắc ĐMV.
  • Đưa bóng vào và bơm bóng lên để nong chổ hẹp ĐMV.
  • Sau đó đặt giá đỡ (stent) để giữ cho lòng ĐM không bị hẹp trở lại.

Chỉ định chụp ĐMV

1 - Nhồi máu cơ tim cấp: 

  • Chỉ định chụp ĐMV và thông tim trong NMCT cấp là một chỉ định không thường quy. Tuy nhiên, ở những trung tâm tim mạch lớn với nhiều kinh nghiệm, người ta thường chụp và can thiệp ĐMV ngay thì đầu cho bệnh nhân NMCT cấp.
  • Các chỉ định chắc chắn được thống nhất trong NMCT cấp là khi: Bệnh nhân vẫn đau ngực khi đã điều trị nội khoa tích cực, có rối loạn huyết động, có biến chứng cơ học,...
  • Những bệnh nhân đã ổn định sau NMCT mà xuất hiện đau ngực lại hoặc có nghiêm pháp gắng sức dương tính cũng là chỉ định bắt buộc.  

2 - Đau ngực không ổn định:

Chỉ định chụp ĐMV sau khi được điều trị nội khoa tích cực mà bệnh nhân vẫn còn đau ngực.             

3 - Đau ngực ổn định: 

Chỉ định ở những bệnh nhân đáp ứng điều trị nội khoa kém hoặc có nguy cơ cao với các nghiệm pháp gắng sức (NPGS) dương tính.

4 - Các bất thường ở NPGS: 

Chỉ định chụp ĐMV thường đặt ra ở những bệnh nhân có NPGS dương tính rõ với nguy cơ cao:

  • Dương tính ở mức gắng sức thấp.
  • ST chênh xuống sớm.
  • ST chênh xuống dạng dốc xuống.
  • ST chênh xuống > 2mm, kéodài.
  • Có tụt huyết áp hoặc xuất hiện rối loạn nhịp tim, nhất là nhịp nhanh thất.

5 - Rối loạn nhịp thất: 

Chỉ định chụp ĐMV và thông tim trái là bắt buộc ở những bệnh nhân có rối loạn nhịp thất hoặc có tiền sử đột tử được cứu sống mà đã loại trừ các nguyên nhân do rối loạn chuyển hoá.

6 - Rối loạn chức năng thất trái:

Những bệnh nhân có rối loạn chức năng thất trái với EF <40% mà không rõ căn nguyên cũng cần phải chụp ĐMV và thông tim trái.

7 - Bệnh van tim:

Những bệnh nhân co bệnh lý van tim cần phẩu thuật tuổi > 40 (nam) và > 50 (nữ). Để giúp xác định chênh áp qua đường ra thất trái (hẹp đường ra thất trái), hở van hai lá và van ĐMC.

8 - Các tình huống khác:

  • Có tách thành ĐM chủ mà có liên đới đến ĐM chủ lên.
  • Một số bệnh tim bẩm sinh để tìm hiểu dị dạng ĐMV có thể kèm theo. Thường tiến hành cùng thông tim phải để chẩn đoán, đo đạc áp lực, luồng thông,…

Chống chỉ định

  • Bệnh nhân có rối loạn đông máu:  Cần đánh giá tình hình đông máu của bệnh nhân trước thủ thuật. Nếu bệnh nhân đang dùng Warfarin cần ngừng 3 ngày trước làm thủ thuật.
  • Suy thận nặng: Cần theo dõi kỹ, hạn chế dùng các thuốc can quang và lọc thận nếu cần.
  • Dị ứng thuốc cản quang: Hỏi kỹ tiền sử đãdùng và có dị ứng với thuốc cản quang hay không.
  • Nhiễm trùng đang tiến triển: Đặc biệt tại vị trí sẽ thiết lập đường vào.
  • Có rối loạn sinh hoá, điện giải, thiếu máu,…
  • Suy tim mất bù
  • Các bệnh mạch ngoại vi nặng: Làm khó khăn cho đường vào, có thể có các biến chứng nặng nề ( tắc mạch, tách thành ĐM, chảy máu khó cầm,…)
  • Phình ĐM chủ bụng: Cần chú ý và có thể thay đường vào từ tay.
  • Tăng huyết áp trầm trọng không khống chế được.

Nguồn: Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

Tin tức có thể bạn quan tâm
Thành viên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây