Chúng tôi trên mạng xã hội
    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

moi quang cao

Thống kê
  • Đang truy cập215
  • Máy chủ tìm kiếm52
  • Khách viếng thăm163
  • Hôm nay43,000
  • Tháng hiện tại110,049
  • Tổng lượt truy cập39,701,941

Những ảnh hưởng về độ cao tới bệnh lý tim mạch - bệnh viện 103

Phân loại độ cao

  • Độ cao nhẹ: dưới 1500m
  • Độ cao trung bình: từ 1500 đến 4000m.

  • Độ cao lớn: trên 4000m.

Sự thích nghi với độ cao:

  • Sự thích nghi của cơ thể với độ cao bắt đầu xuất hiện khi ở độ cao >1500m so với mực nước biển.
  • Đối với những người khỏe mạnh, khi lên cao trong vòng 6 đến 8 giờ đầu sẽ có sự tăng nhẹ cung lượng tim và cung lượng thở để đảm bảo duy trì sự cung cấp oxy cho các cơ quan sống.
  • Giai đoạn đầu tiên khi lên cao, cung lượng tim sẽ tăng khoảng 20-30%; có hiện tượng giãn mạch tổ chức, tăng nhẹ áp lực động mạch phổi do nồng độ oxy phế nang bị giảm.
  • Tăng tạo hồng cầu và lượng huyết sắc tố chứa trong hồng cầu, tăng từ 20 – 30% thể tích máu; các tế bào cơ tim tăng khả năng sử dụng oxy.
  • Những người được sinh ra ở độ cao trên 5000m do sự thích nghi nên có tỷ lệ đường kính lồng ngực so với cơ thể tăng hơn so với các cá thể sinh ra ở vùng đồng bằng, thất phải phát triển để đáp ứng và duy trì một áp lực động mạch phổi cao.

Khi áp lực riêng phần của oxy giảm dưới 40mmHg:

  • Xảy ra hiện tượng giãn chọn lọc của động mạch não và động mạch vành
  • Trạng thái giảm nồng độ khí CO2 của không khí trên độ cao sẽ kích thích các thụ cảm thể hóa học của động mạch, gây nên co mạch và tăng sức cản ngoại biên
  • Tăng sức co bóp của tim và thông khí phổi.
  • Kết quả dẫn đến sự tái phân phối máu của tổ chức; đảm bảo ưu tiên phân phối máu cho các cơ quan sống quan trọng như não, thận và tim.
  • Nếu áp lực riêng phần oxy giảm quá nhiều (dưới 20mmHg) sẽ vượt quá cơ chế thích ứng của tổ chức, lúc đó sẽ xảy ra các rối loạn nặng.

Khi áp lực riêng phần oxy tăng tới 2500m:

  • Có sự giảm nhẹ độ bão hòa oxy xuống (khoảng 93%), sự giảm nhẹ này đủ để kích thích các thụ thể hóa học gây tăng thông khí phổi (tăng 65% ở độ cao 5000m).
  • Đồng thời với tăng thông khí phổi là tăng cung lượng tim khoảng 25% so với giá trị cơ sở song song với co mạch ngoại biên và tăng áp lực động mạch phổi.

Khi áp lực riêng phần oxy tăng tới 3000m:

  • Độ cao 3000m sẽ xuất hiện các triệu chứng nhẹ như cảm giác mệt mỏi, đau đầu, buồn nôn và giảm nhẹ trí nhớ.
  • Các triệu chứng sẽ càng rõ rệt và nặng nề hơn ở độ cao lớn hơn

Khi áp lực riêng phần oxy tăng tới 7000m:

  • Độ cao 7000m sẽ xuất hiện rối loạn ý thức và khởi đầu hôn mê.
  • Sự tăng thông khí phổi kéo dài sẽ gây nên mất nước kết hợp với tăng lượng huyết sắc tố làm cho máu trở nên cô đặc hơn, tăng độ quánh kết quả là tăng nguy cơ bị huyết khối.
  • Sự tăng áp lực dộng mạch phổi cũng gây nên tăng gánh nặng thất phải hậu quả là phì đại và giãn thất phải.

Mệt mỏi cấp tính do độ cao:

  • Gồm các triệu chứng rối loạn về hô hấp, thần kinh như đau đầu kéo dài, tăng tần số thở, khó thở

  • Có thể xuất hiện phù khu trú ở mặt hoặc tận cùng của chi, đái ít.

  • Các triệu chứng này thường xảy ra sau 6 giờ khi lên độ cao 2500 đến 3000m và ở những người chưa được rèn luyện.

  • Việc dự phòng tai biến này chủ yếu là cần có thời gian đầy đủ để cơ thể thích nghi một cách từ từ với tình trạng thiếu oxy trên cao

  • Chỉ nên tăng dần độ cao từ 300-500m mỗi ngày (ví dụ 1 tuần đối với độ cao 5000m); với các đối tượng hút thuốc lá, nên ngừng hút vài ngày trước khi lên độ cao.

Phù phổi do độ cao:

  • Do 2 quá trình bất thường xảy ra cùng lúc; đó là tăng áp lực động mạch phổi kết hợp với tăng tính thấm của mao mạch phế nang.

  • Áp lực động mạch phổi còn tăng cao hơn khi gắng sức, lạnh hay sự xuất hiện các cục huyết khối vi mạch.

  • Tần suất gặp tai biến này khoảng 0,01% ở độ cao 3000m, tăng lên khoảng 0,25% ở độ cao 4000m.

  • Thời gian xuất hiện triệu chứng đầu tiên khoảng 2,5 ngày ở độ cao trung bình và ngay ngày đầu tiên, thậm chí chỉ vài giờ ở độ cao lớn.

  • Triệu chứng khởi đầu hay gặp là ho khan (90% các trường hợp); ít khi có kèm theo khạc đờm hay khạc ra bọt màu hồng.

  • Khó thở liên tục, nặng lên khi gắng sức nhẹ.

  • Hồi hộp đánh trống ngực (52% các bệnh nhân).

  • Đau đầu gặp ở 84% các trường hợp. 

Một số tai biến khác về thần kinh:

Phù não do độ cao:

  • Là giai đoạn nặng hơn của mệt mỏi do độ cao với các biểu hiện đau đầu dữ dội
  • Không giảm khi uống aspirin kèm theo buồn nôn và nôn; rối loạn tính tình và suy sụp khả năng nhận định phán xét.
  • Nếu nặng thêm sẽ biểu hiện rối loạn vận động, ảo giác, mất định hướng thời gian và không gian; song thị và rối loạn vận động ngôn ngữ.
  • Nếu không được cấp cứu kịp thời sẽ dẫn đến hôn mê, suy thở và chết trong vòng vài tiếng.
  • Việc điều trị đòi hỏi phải đưa người bệnh xuống thấp càng nhanh càng tốt (xuống độ cao dưới 2500m); thở oxy liều cao, tiêm thuốc nhóm corticoid.

Tai biến mạch máu não thoáng qua:

  • Biểu hiện bằng thiếu hụt cảm giác và vận động, mất ý thức thoáng qua; đau đầu.
  • Đối với người già, đây có thể là dấu hiệu báo trước của tai biến mạch máu não.
  • Việc dự phòng chủ yếu là uống đủ nước (đặc biệt với người già).

Ảnh hưởng của độ cao với các bệnh lý tim mạch:

  • Trong trạng thái thiếu oxy do độ cao, tim thích nghi bằng cách tăng tần số
  • Sự tăng này tỷ lệ thuận với độ cao. Khi nhịp tim tăng, nhu cầu oxy của cơ tim cũng tăng theo.
  • Các bệnh nhân bị bệnh thiếu máu cơ tim cần phải hết sức thận trọng và tuân thủ tuyệt đối theo hướng dẫn của bác sỹ chuyên khoa tim mạch
  • Các đối tượng này phải được khám xét kỹ càng trước khi lên độ cao, mặc đủ ấm (vì lạnh là yếu tố gây co mạch rất mạnh) và phải được huấn luyện đầy đủ và kỹ càng với các tình huống bất trắc có thể xảy ra.
  • Các bệnh nhân có tiền sử nhồi máu cơ tim không có biến chứng; không có suy tim, có thể được phép lên đến độ cao 3000m với điều kiện thực hiện dần dần từng bước và tuân thủ chặt chẽ các qui tắc.

Các bệnh cần tránh:

  • Cao huyết áp và hoặc suy tim không kiểm soát được bằng các biện pháp điều trị.
  • Loạn nhịp tim nặng như ngoại tâm thu thất phức tạp; đặc biệt ngoại tâm thu thất xảy ra hoặc nặng lên khi gắng sức.
  • Tăng áp lực động mạch phổi nặng, nhất là trên các bệnh nhân bị bệnh phổi – phế quản.
  • Đau thắt ngực không ổn định hoặc tiền sử nhồi máu cơ tim có biến chứng (suy tim, loạn nhịp).

Nguồn: Bệnh viện 103

Tin tức có thể bạn quan tâm
Thành viên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây