Chúng tôi trên mạng xã hội
    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

moi quang cao

Thống kê
  • Đang truy cập383
  • Máy chủ tìm kiếm131
  • Khách viếng thăm252
  • Hôm nay79,717
  • Tháng hiện tại1,445,513
  • Tổng lượt truy cập36,210,741

Phẫu thuật mở cạnh cổ - bệnh viện 103

1. Định nghĩa

Là một phẫu thuật mở vào vùng tổ chức liên kết quanh thực quản cổ và vùng lân cận như bó mạch thần kinh cảnh hay chính thực quản để lấy dị vật.

2. Chỉ định

  • Áp xe quanh thực quản do dị vật đường ăn.
  • Viêm tấy tổ chức liên kết ở vùng cổ do nhiễm trùng (không do hóc xương).
  • Chấn thương thủng thực quản cần mở ra để khâu lại.
  • Dị vật thực quản quá to không lấy được bằng đường tự nhiên
  • Cắt bỏ túi thừa thực quản.

3. Chuẩn bị bệnh nhân.

Bệnh nhân được chuẩn bị kỹ và chuẩn bị trước cho người nhà bệnh nhân những tai biến trong mổ có thể xảy ra, vấn đề ăn uống sau mổ.

Hồi sức chu đáo trước mổ vì bệnh nhân thường không ăn uống được lâu ngày.

Trong trường hợp bệnh nhân khó thở có 2 cách giải quyết trước mổ:

  • Chọc hút mủ hoặc các chất gây chèn ép( nếu chọc hút được).
  •  Nếu không chọc hút được mở khí quản trước khi mở cạnh cổ.

4. Dụng cụ:

  • Dao mổ: 2 cái                                           
  • Kìm Kocher: 4
  • Kéo thẳng: 1                                       
  • Kìm cầm máu: 10
  • Kéo cong: 1                                        
  • Banh Farabơp: 2
  • Kìm phẫu tích có răng: 1                  
  • Kim khâu: 1
  • Xông lòng máng: 1                             
  • Kìm giữ khăn: 4
  • Săng gạc                                             
  • Sông nélaton đặt thực quản

5. Kỹ thuật.

5.1. Ánh sáng: 

Dùng đèn mổ lớn

5.2.Tư thế: 

Bệnh nhân nằm ngửa, đặt 1 gối dưới vai, nghiêng đầu sang bên đối diện.

5.3. Phẫu thuật viên: 

Đứng bên mổ, phụ 1 đứng đối diện phẫu thuật viên, phụ 2 đứng phía đầu bệnh nhân.

5.4. Vô cảm: 

Gây mê hoặc tê tùy từng trường hợp

  • Tiền mê và gây mê toàn thân.
  • Tiền mê, gây tê tại chỗ.
  • Nên đặt một ống cao su 10 mm qua mũi vào thực quản để dễ phân biệt trong quá trình mổ.

5.5 Các thì phẫu thuật

Thì 1: Rạch da

  • Rạch da dài 10 cm dọc theo bờ trước cơ ức đòn chũm bắt đầu từ bờ trên sụn giáp đến khớp ức đòn, hoặc trên khớp ức đòn 1-2cm.
  • Rạch qua da và các cơ bám da, các tĩnh mạch cổ nông được cắt và buộc lại.
  • Tìm cân cổ nông, rạch cân cổ nông dọc trước cơ ức đòn chũm. Dùng sông lòng máng tiếp tục giải phóng bờ trước cơ ức đòn chũm, giải phóng cân cổ nông, dùng banh Farabơp kéo cơ ức đòn chũm ra ngoài.

Thì 2: Cắt lớp cân cổ giữa

  • Đầu tiên tìm các cơ dưới móng: ức móng, ức giáp, vai móng. Dùng sông lòng máng bóc tách các cơ này, cắt bỏ cùng với cân cổ giữa dọc từ trên xuống dưới.
  • Trong trường hợp có túi mủ bên thực quản, các cơ ức móng, ức giáp căng phồng lên, khi ta rạch qua cân cổ giữa mủ sẽ trào ra, hút sạch mủ.
  • Khi đến lớp cân cổ sâu ta thấy động mạch cảnh đập ở phía ngoài, dùng sông lòng máng bóc tách toàn bộ bó mạch cảnh, sau đó dùng Farabơp kéo bó mạch này ra ngoài.

Thì 3: Cắt và buộc các mạch máu giáp trạng.

Kéo tuyến giáp vào trong, kéo bó mạch thần kinh cảnh và cơ ức đòn chũm ra ngoài, giữa tuyến giáp và bó mạch thần kinh cảnh có các mạch máu sau:

  • Tĩnh mạch giáp trạng giữa đi từ tuyến giáp đến TMCT: Buộc lại và cắt.
  • Động mạch giáp trạng dưới ngang tầm C5 – C6, nên thắt động mạch này ở xa tuyến giáp vì động mạch này nuôi cả tuyến giáp và tuyến cận giáp và vì ở đây có dây quặt ngược bắt chéo qua động mạch sát tuyến giáp.

Thì 4: Rạch thực quản

  • Chỉ rạch thực quản lấy dị vật khi dị vật to quá không thể lấy qua đường miệng được. Nên rạch thực quản xa TK quặt ngược, tức là rạch ở phía sau bên thực quản.
  • Dùng dao rạch lớp thanh mạc và cơ, khi đến lớp niêm mạc dùng 2 kìm răng chuột cặp nâng lên ở 2 đầu, cắt lớp niêm mạc dọc theo đường rạch cơ rồi dùng kìm Kocher cong luồn vào trong lòng thực quản lấy dị vật. Trong trường hợp dị vật ở sâu nên cho hẳn ngón tay vào lòng thực quản để tìm dị vật.

Thì 5: Xử lý vết mổ.

  • Tuỳ tình trạng hố mổ và thực quản quyết định có khâu thực quản hay không. Nếu thực quản tổn thương nhẹ gọn ta khâu thực quản làm 2 lớp, lớp niêm mạc bằng chỉ lin, lớp cơ bằng catgut rồi đặt rồi đặt mèche dẫn lưu, khâu cơ ức đòn chũm và cơ dưới móng, sau đó để hở da hoặc khâu thưa da.
  • Thường ổ áp xe thực quản vỡ vào ngày thứ 6-7, nếu thấy thực quản mủn nát hoại tử, xung quanh có ổ mủ thì không khâu thực quản đồng thời để hở cả hố mổ rồi dùng mèche kháng sinh nhét đầy vào hố mổ.
  • Đặt sonde thực quản qua mũi để nuôi dưỡng bệnh nhân sau mổ.

6. Hậu phẫu.

  • Trong 24 giờ đầu truyền dịch nuôi dưỡng.
  • Các ngày sau cho ăn hoàn toàn qua sonde. Có thể phải ăn qua sonde đến 1-2 tháng để chờ hố mổ liền lại.
  • Thay băng nhiều lần/ ngày trong trường hợp hố mổ nhều mủ.

7. Biến chứng sau mổ.

  • Viêm trung thất do trong khi mổ không chèn kỹ gạc phía trung thất, làm mủ tràn xuống: sau mổ sốt cao trở lại, mạch nhanh, đau ngực, trên X quang phổi thẳng thấy trung thất rộng ra.
  • Thủng vào màng phổi gây viêm màng phổi mủ.
  • Thủng động mạch cảnh do thành động mạch nhiễm trùng gây vỡ.

Nguồn: Bệnh viện 103

Thành viên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây