Chụp cắt lớp vi tính khảo sát xoang
1. Giải phẫu bệnh viêm xoang
Y học hiện đại quan niệm rằng viêm là một quá trình sinh học gồm nhiều phản ứng của cơ thể, mang tính tại chỗ và toàn thân, nhằm bảo vệ cơ thể chống lại tác nhân gây bệnh, sửa chữa vùng tổn thương để tái lập cân bằng nội môi. Quá trình viêm gồm nhiều giai đoạn và hiện tượng khác nhau. Những yếu tố gây viêm có thể từ môi trường bên ngoài hoặc hình thành ngay trong cơ thể.
Những hiện tượng qua các giai đoạn viêm:
- Khởi đầu (Giai đoạn phản ứng hóa - sinh): Xảy ra sớm trong khoảng vài ngày đầu tiên, khó nhận biết trên lâm sàng, gồm nhiều phản ứng hóa học và sinh học.
- Phản ứng huyết quản - huyết, bao gồm hai thời kỳ: Thời kỳ sớm (I), dài vài phút, do tác động của histamin; Thời kỳ muộn (II), do tác động của kinin, đạt tối đa trong vòng 3 - 4 giờ. Trong giai đoạn này, thoạt đầu xảy ra co mạch thoáng qua, sau đó là giãn mạch do sung huyết động.
Dựa theo tiến triển lâm sàng, có 3 phân loại viêm:
- Viêm cấp: Kéo dài vài ngày đến vài tuần, gồm nhiều phản ứng huyết quản - huyết kèm thâm nhập nhiều bạch cầu nhân múi.
- Viêm bán cấp: Kéo dài vài tuần đến vài tháng, gồm phản ứng mô kèm mô hạt viêm hiện diện.
- Viêm mạn: Kéo dài nhiều tháng, nhiều năm, gồm phản ứng hàn gắn, sửa chữa, kèm theo tăng sản hóa sợi, hóa xơ.
Bệnh lý tai mũi họng nói chung và viêm xoang nói riêng thường được chia làm hai loại là viêm cấp và viêm mạn, từ đó quyết định điều trị nội khoa hay phẫu thuật. Ngoài ra còn có dạng tổn thương polyp, có thể đơn độc hoặc phối hợp với viêm mạn.
2. Viêm xoang mạn tính
Viêm mũi xoang mạn là tình trạng bệnh xoang mà triệu chứng lâm sàng kéo dài trên 12 tuần. Đây là một trong những bệnh mạn tính thường gặp nhất, chiếm tỷ lệ cao trong các vấn đề về tai - mũi - họng. Theo thống kê, tỷ lệ viêm mũi xoang mạn tính trong cộng đồng chiếm 14% dân số.
Trước đây, chẩn đoán viêm mũi xoang gặp nhiều khó khăn và chưa thống nhất. Nhưng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là chụp CT khảo sát xoang, việc chẩn đoán bệnh không chỉ dễ dàng hơn, mà còn hỗ trợ đắc lực cho phương pháp phẫu thuật nội soi mũi xoang. Hiện tại đã có thể xác định được tổn thương, đánh giá mức độ thông thoáng vùng phức hợp lỗ ngách và các bất thường,... nhờ đó đề phòng và hạn chế tai biến trong phẫu thuật.
Nguyên nhân viêm xoang nguồn gốc từ mũi và thường tái phát là do biến đổi của phức hợp lỗ ngách. Phức hợp lỗ ngách nằm trong ngách mũi giữa, các thay đổi tại đây là yếu tố gây bệnh lý viêm xoang cấp và mạn tính. Chụp cắt lớp vi tính khảo sát xoang với hai tư thế Axial và Coronal giúp đánh giá mức độ dày, mờ của các xoang, phức hợp lỗ ngách... cũng như mức độ bệnh lý theo thang điểm Lund - Mackay.
3. Chụp cắt lớp vi tính khảo sát xoang
Năm 1972, một kỹ sư người Anh và bác sĩ người Mỹ đã chế tạo hoàn chỉnh máy chụp CT scan. Đến năm 1995, nhiều chuyên gia X-quang đã công nhận vai trò và giá trị của CT scan trong chẩn đoán viêm xoang mũi. Cụ thể là giúp cung cấp cho các bác sĩ tai mũi họng những thông tin chuẩn xác về:
- Giải phẫu phức hợp lỗ thông khe
- Những dấu hiệu bệnh lý mũi xoang: Polyp mũi, vẹo vách ngăn mũi, dày niêm mạc ở các xoang...
- Những thay đổi bất thường của cấu trúc mũi xoang, trong xoang sàng và xoang bướm
- Kích thước của các tế bào Agger nasi, ngách trán, ổ mắt, bóng sàng, trần xoang sàng, các tế bào sàng sau, phễu sàng...
- Những vách ngăn bất thường trong xoang bướm
- Tình trạng thiếu vách xương bẩm sinh khiến động mạch cảnh bộc lộ trong xoang bướm
Chụp CT khảo sát xoang được chỉ định khi:
- Bệnh xoang đã điều trị nội khoa tối đa nhưng vẫn thất bại
- Đánh giá trước phẫu thuật nội soi
- Viêm xoang mũi đã có biến chứng
- Nghi ngờ bệnh ác tính, có khối u mũi xoang.
Chụp cắt lớp xoang thường được thực hiện qua 2 bình diện:
- Bình diện trán (Coronal): Người bệnh nằm ngửa hoặc sấp, cổ ngửa tối đa. Hướng mặt cắt vuông góc với vòm khẩu cái cứng.
- Bình diện ngang (Axial): Người bệnh nằm ngửa, đầu thẳng, mắt nhìn lên trần nhà. Hướng mặt cắt song song với vòm khẩu cái.
Ngày nay, nhiều chuyên gia y tế đề nghị chụp phim CT scan theo tư thế coronal để khảo sát các xoang được rõ ràng hơn bình diện ngang. Phim CT scan bình diện trán cho thấy:
- Tuần tự các cấu trúc giải phẫu từ trước ra sau giống như khi tiến hành phẫu thuật
- Mối liên quan của các xoang với các cấu trúc giải phẫu quan trọng lân cận, như trần xoang sàng, xương giây
- Hình ảnh rõ hơn chụp X-quang thường hơn 100 lần, thấy rõ cấu trúc giải phẫu hốc mũi, phức hợp lỗ thông xoang, các xoang và các cấu trúc kế cận có liên quan
- Những hình ảnh bệnh lý đặc biệt của xoang như: thiểu năng xoang hàm, concha bullosa, xơ nang, u nấm Aspergillus trong xoang
Do đó, CT scan tư thế coronal thích hợp nhất để tiếp cận các tổn thương mũi xoang, được xem là chuẩn vàng để đánh giá tình trạng viêm xoang và những bất thường về cấu trúc xương của các xoang.
4. Chụp CT khảo sát xoang để đánh giá mức độ
Để đánh giá viêm xoang mạn nặng hay nhẹ trên phim CT scan, nhiều bác sĩ dùng thang điểm dựa vào hình ảnh mờ đục của các xoang và phức hợp lỗ thông khe để cho điểm, cụ thể như sau:
| Hình ảnh mờ đục | Bên phải | Bên trái |
|---|---|---|
| Xoang hàm | 0 - 2 | 0 - 2 |
| Xoang sàng trước | 0 - 2 | 0 - 2 |
| Xoang sàng sau | 0 - 2 | 0 - 2 |
| Xoang bướm | 0 - 2 | 0 - 2 |
| Xoang trán | 0 - 2 | 0 - 2 |
| Phức hợp lỗ thông khe | 0 - 2 | 0 - 2 |
| Tổng cộng | 12 | 12 |
Trong đó, bảng điểm từ 0 đến 2 cho mỗi xoang:
- 0: không có bất thường
- 1: mờ đục một phần
- 2: mờ đục hoàn toàn.
Đối với lỗ thông khe:
- 0: không tắc nghẽn
- 1: tắc nghẽn một phần
- 2: tắc nghẽn hoàn toàn
Tóm lại, bệnh nhân viêm xoang nên được chỉ định chụp CT khảo sát xoang vùng mũi. Bên cạnh xác định đúng xoang viêm và mức độ, hình ảnh chụp CT scan còn giúp đánh giá dị hình phức hợp lỗ ngách, vẹo vách ngăn, dị hình khe giữa. Cần kết hợp lâm sàng với nội soi và chụp cắt lớp vi tính khảo sát xoang mũi nhằm nâng cao hiệu quả trong chẩn đoán và điều trị bệnh xoang.
Ho rát họng có đờm là một vấn đề phổ biến có thể gặp ở bất kỳ ai. Nguyên nhân của tình trạng này có thể là viêm amidan, cảm cúm, viêm họng, thậm chí là ung thư vòm họng.
Viêm phế quản là một bệnh lý phổ biến trong xã hội ngày nay mà nhiều người có thể mắc phải. Tuy viêm phế quản không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe của người bệnh.
Ho, sốt đau họng là những triệu chứng thường gặp cùng lúc và có thể ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ nguyên nhân, cách nhận biết và những phương pháp hiệu quả để giảm nhẹ và xua tan những triệu chứng này.
Là một phần quan trọng của hệ hô hấp, họng thường mắc phải nhiều bệnh lý khác nhau. Các bệnh về họng có thể đơn giản chỉ là viêm họng hoặc có thể nghiêm trọng hơn như viêm amidan, viêm thanh quản và thậm chí ung thư họng.
Thời điểm giao mùa, các trung tâm Y tế đang ghi nhận nhiều trường hợp bệnh nhi mắc viêm phổi do vi khuẩn Mycoplasma. Đây là một bệnh thường xuất hiện trong mùa giao mùa, đặc biệt làm lây lan nhanh chóng.
Nếp gấp màu trắng trên mí mắt sau 6 tháng cắt mí
Dạ em có cắt mí được 6 tháng rồi ạ. Thì sau khi cắt mí 6 tháng, ở mắt phải (mắt khoanh tròn) em thấy có nếp gấp màu trắng ở đó còn mắt trái không có. Em không biết sau này có hết không ạ? Ảnh em nhắm mắt là sau 4 tháng thì cả hai mắt có đường màu trắng nhưng sau thì mắt trái hết rồi ạ. Và có một thắc mắc khác là lúc em cắt chỉ sau 7 ngày thì thấy mắt phải (mắt khoanh tròn), đường mí không vào đầu mắt ạ, còn mắt trái thì vào đầu mắt nên tự nhiên hơn, em không biết sau này nếu sửa lại thì có sửa cho mí mắt phải vào đầu mắt được không ạ?
- 0 trả lời
- 941 lượt xem
Thiếu máu là tình trạng không có đủ hồng cầu khỏe mạnh để vận chuyển oxy đi khắp cơ thể. Thiếu sắt là nguyên nhân phổ biến dẫn đến thiếu máu.
Sắt tích tụ trong các cơ quan có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm.
Bổ sung sắt hàng ngày là biện pháp để kiểm soát tình trạng thiếu máu do thiếu sắt. Có thể tăng lượng sắt cho cơ thể bẳng cách ăn nhiều thực phẩm giàu sắt hoặc dùng chế phẩm bổ sung sắt.
Xét nghiệm sắt huyết thanh giúp phát hiện nồng độ sắt trong máu thấp hoặc cao hơn bình thường.
Trong hầu hết các trường hợp, nguyên nhân gây ngộ độc sắt là do dùng viên uống sắt hoặc vitamin tổng hợp chứa sắt liều quá lớn. Điều này chủ yếu xảy ra ở trẻ nhỏ.





