Các dạng tổn thương tiền ung thư cổ tử cung
1. Tổn thương tiền ung thư cổ tử cung là gì?
Tổn thương tiền ung thư cổ tử cung là những thay đổi khiến tế bào cổ tử cung trông không còn như bình thường mà có xu hướng tiến triển thành ung thư, nhưng những tổn thương này chưa phải là ung thư, chỉ khi không được can thiệp thích hợp thì chúng mới có nguy cơ phát triển thành ung thư thực sự.
Thời gian để những tổn thương tiền ung thư cổ tử cung diễn tiến thành ung thư cổ tử cung thường lên tới 10 năm (hoặc nhiều hơn nữa), nhưng trong một số trường hợp hiếm gặp thời gian này có thể ngắn hơn.
Khu vực xảy ra những tổn thương tiền ung thư được gọi là khu vực biến đổi. Khu vực này là nơi những tế bào biểu mô trụ dần chuyển sang thành tế bào biểu mô vảy. Quá trình biến đổi của tế bào biểu mô trụ thành tế bào biểu mô vảy là một quá trình bình thường, nhưng nó làm cho các tế bào nhạy cảm hơn trước tác động của virus gây u nhú ở người (human papillomavirus - HPV).
2. Các dạng tổn thương của tiền ung thư cổ tử cung
Các dạng tổn thương của tiền ung thư cổ tử cung được miêu tả dựa trên hình thái bất thường của các tế bào và mức độ nghiêm trọng của những bất thường này. Những biến đổi tiền ung thư ở cổ tử cung là khá thường gặp.
Phân loại tổn thương trên xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung (xét nghiệm Pap)
Các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung trên xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung (xét nghiệm Pap) được mô tả theo hệ thống Bethesda, bao gồm các thay đổi liên quan tới tổn thương tế bào biểu mô vảy (squamous intraepithelial lesion - SIL) và bất thường tế bào tuyến, là tế bào tuyến không điển hình (atypical glandular cells - AGC).
- Tổn thương tế bào biểu mô vảy mức độ thấp (low - grade squamous intraepithelial lesion - LSIL): chỉ có những tế bào biểu mô bề mặt (hoặc các tế bào lân cận) của cổ tử cung bị biến đổi.
- Tổn thương tế bào biểu mô vảy mức độ cao (high - grade squamous intraepithelial lesion - HSIL): các tế bào biểu mô cổ tử cung ở lớp sâu hơn cũng bị thay đổi.
- Tế bào tuyến không điển hình (atypical glandular cells - AGC): là sự biến đổi xảy ra đối với tế bào tuyến ở cổ tử cung. Những thay đổi này có mối liên quan với nguy cơ cao hơn tiến triển thành ung thư.
Phân loại tổn thương dựa trên giải phẫu bệnh
Tổn thương tiền ung thư cổ tử cung trên giải phẫu bệnh được gọi tên dưới thuật ngữ tân sinh biểu mô cổ tử cung (cervical intraepithelial neoplasia - CIN), và phân độ sẽ dựa vào phạm vi các tế bào loạn sản được nhìn thấy ở mẫu mô biểu mô cổ tử cung:
- CIN 1: khi loạn sản chỉ xuất hiện ở 1⁄3 dưới của lớp biểu mô của cổ tử cung; trường hợp này được nhận định là loạn sản mức độ nhẹ.
- CIN 2: khi loạn sản xuất hiện ở 2⁄3 dưới của lớp biểu mô của cổ tử cung; trường hợp này được nhận định là loạn sản mức độ trung bình.
- CIN 3: khi loạn sản chiếm trên 2⁄3 độ dày của lớp biểu mô của cổ tử cung (thậm chí là toàn bộ lớp biểu mô cổ tử cung); trường hợp này là loạn sản mức độ nặng.
So sánh tương đương giữa hai hệ thống phân loại
Giữa hai hệ thống phân loại thì tổn thương tế bào biểu mô vảy mức độ thấp tương đương với CIN 1, còn tổn thương tế bào biểu mô vảy mức độ cao tương đương với CIN 2 và CIN 3.
3. Các yếu tố nguy cơ của tổn thương tiền ung thư cổ tử cung
Nhiễm virus gây u nhú ở người là yếu tố nguy cơ chính xảy ra tổn thương tiền ung thư cổ tử cung. Hút thuốc lá và suy yếu hệ miễn dịch là những điều kiện thuận lợi làm tăng nguy cơ phát triển những tổn thương tiền ung thư cổ tử cung (bởi cơ thể không đào thải được virus gây u nhú ở người, và sẽ mang virus mạn tính).
4. Chẩn đoán tổn thương tiền ung thư cổ tử cung
Các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung thường không có bất kỳ dấu hiệu hay triệu chứng nào. Tổn thương tiền ung thư cổ tử cung đa phần được phát hiện sau khi kết quả xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung (xét nghiệm Pap) cho thấy bất thường (và do đó thực hiện định kỳ xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung là rất quan trọng).
Nếu kết quả xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung là bất thường, bác sĩ có thể chỉ định thêm các xét nghiệm khác để xác định tình trạng, như:
- Thực hiện lại xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung sau vài tháng (thường là sau 6 tháng) nếu kết quả lần xét nghiệm đầu cho thấy các tế bào chỉ biến đổi nhẹ.
- Xét nghiệm virus gây u nhú ở người (đôi khi xét nghiệm này được thực hiện cùng lúc khi làm xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung).
- Soi cổ tử cung và lấy mẫu mô tại khu vực nghi ngờ tổn thương làm giải phẫu bệnh.
- Nạo kênh cổ tử cung (endocervical curettage - ECC): kỹ thuật này sử dụng thìa nạo (curette) để nạo niêm mạc của kênh cổ tử cung (là khu vực không thể nhìn thấy từ bên ngoài cổ tử cung), và thường được thực hiện trong quá trình soi cổ tử cung.
5. Điều trị tổn thương tiền ung thư cổ tử cung
Các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung mức độ nhẹ có thể tự biến mất mà không cần điều trị, do đó bác sĩ có thể chỉ định theo dõi định kỳ mà chưa can thiệp ngay.
Các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung mức độ trung bình và mức độ nặng có nguy cơ tiến triển thành ung thư cổ tử cung, do đó nên được điều trị càng sớm càng tốt. Các phương pháp điều trị có thể sử dụng bao gồm:
- Khoét chóp cổ tử cung bằng vòng điện (loop electrosurgical excision procedure - LEEP), hoặc các phương pháp khoét chóp khác.
- Phẫu thuật lạnh (cryosurgery).
- Phẫu thuật bằng laser.
- Phẫu thuật cắt bỏ tử cung.
Nếu được phát hiện sớm và can thiệp điều trị thích hợp, tiên lượng đối với các tổn thương tiền ung thư cổ tử cung là rất tốt.
Phương pháp phòng ngừa loạn sản cổ tử cung là tiêm phòng vắc - xin HPV.
Bệnh thủy đậu là bệnh cấp tính do virus Varicella Zoster gây ra. Bệnh rất dễ lây truyền qua đường hô hấp hoặc tiếp xúc với dịch tiết của bệnh nhân. Đặc biệt, virus có thể sống vài ngày trong vẩy bong của thủy đậu. Vì thế, cách phòng ngừa và tránh lây lan bệnh là đặc biệt quan trọng.
Thời điểm tốt nhất để tiêm phòng vắc-xin viêm gan B là từ lúc trẻ mới sinh ra, nếu muốn biết tình trạng của trẻ phù hợp với loại vắc-xin nào thì cần có sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa.
Bệnh bạch cầu là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, do vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae gây ra. Nếu không được điều trị đúng cách, bệnh bạch hầu dẫn đến tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc nặng. Các độc tố do vi khuẩn gây bệnh gây liệt cơ, viêm cơ tim, thậm chí dẫn đến tử vong trong 6 ngày với tỷ lệ khá cao.
Bệnh bạch cầu là một loại ung thư phổ biến, chiếm 31% trong số các loại ung thư ở trẻ nhỏ. Tuy vậy những nghiên cứu cũng như các thống kê cụ thể về bệnh bạch cầu tại Việt Nam còn rất hạn chế. Bài viết sau sẽ cung cấp một số thông tin cần biết về khái niệm, phân loại và yếu tố nguy cơ của bệnh bạch cầu.
Nam giới có nguy cơ nhiễm bệnh sùi mào gà ở cuống lưỡi cao hơn khoảng gấp 3 lần so với nữ giới.
Bé chưa có phản ứng xấu với loại vắc xin nào, thì sẽ không phản ứng gì với các mũi tiêm trong tương lai?
- Bác sĩ ơi, bé nhà tôi được 9 tháng tuổi, bé chưa bao giờ phản ứng xấu với một loại vắc xin nào. Bác sĩ cho tôi hỏi, điều đó có nghĩa là cháu sẽ không phản ứng gì với các mũi tiêm trong tương lai, phải không ạ? Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 1487 lượt xem
Các phản ứng nhạy cảm với vắc xin có di truyền trong gia đình không?
- Bác sĩ cho hỏi, các phản ứng nhạy cảm với vắc xin có di truyền từ bố mẹ sang con không ạ? Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 1232 lượt xem
Làm sao để giảm nguy cơ bé dị ứng với vắc xin?
- Bác sĩ ơi, phải làm gì để bé không bị phản ứng khi tiêm vắc xin được ạ? Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 902 lượt xem
Làm gì khi bé phản ứng không tốt với vắc xin?
- Bác sĩ cho tôi hỏi, những dấu hiệu nào cho thấy bé phản ứng không tốt với vắc xin. Và khi ấy, cha mẹ cần làm gì để xử lý tình trạng này?
- 1 trả lời
- 1008 lượt xem
Tiêm nhiều mũi vắc-xin cùng lúc, liệu có gây quá tải cho hệ thống miễn dịch của bé?
- Thưa bác sĩ, việc sử dụng nhiều hơn một mũi vắc -xin cùng lúc, liệu có gây quá tải cho hệ miễn dịch của bé không ạ?
- 1 trả lời
- 1369 lượt xem
Có một số người băn khoăn là Vắc - xin viên gan B có làm tăng nguy cơ mắc bệnh đa xơ cứng không? Hãy tìm hiểu qua bài viết đưới đây để cùng có câu trả lời nhé!





